Một số vấn đề về đào tạo nhân lực báo chí Việt Nam – Liên bang Nga

Bài báo “Một số vấn đề đào tạo nhân lực báo chí Việt Nam – LB Nga” của TS. Nguyễn Minh Tuấn đã đăng trên kỷ yếu Hội thảo quốc tế: 70 năm hợp tác Việt – Nga về giáo dục và khoa học, do Nhà xuất bản ĐHQGHN ấn hành năm 2020.

1. Đôi nét về đào tạo báo chí cho Việt Nam thời Liên Xô

Tháng 2/1965, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô Viết Aleksey Kosygin sang thăm chính thức Việt Nam. Chuyến thăm này đã “góp phần quan trọng vào việc củng cố hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác anh em giữa Liên Xô và Việt Nam”. [1] Hai nước sau đó có nhiều hành động thiết thực nhằm đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục – đào tạo. Đặc biệt hai nước tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Hiệp nghị giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô về vấn đề học tập của công dân Việt Nam tại Liên Xô (được ký kết năm 1956). Tính đến đầu những năm 1970, có ít nhất 7.000 thanh niên Việt Nam được cử sang học tập và nghiên cứu tại Liên Xô. Trong số đó có khoảng 4.500 người được đào tạo trong các trường đại học tại 35 thành phố trên toàn Liên bang Xô Viết lúc bấy giờ [2]. Đây là nguồn nhân lực quan trọng, đóng góp lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhiều người sau này trở thành các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, hoặc là những nhà khoa học hàng đầu, những chuyên gia, nhà quản lý trên nhiều lĩnh vực ở trong nước. 

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hầu như chưa có sinh viên Việt Nam nào tốt nghiệp chuyên ngành báo chí tại các trường đại học ở Liên Xô. Lí do có thể là, một mặt, trong giai đoạn này, nước ta có nhu cầu ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực trong những ngành khoa học – kỹ thuật, nhằm phục vụ các mục tiêu quốc phòng và phát triển đất nước. Mặt khác, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra vô cùng ác liệt trong giai đoạn 1965-1972, thanh niên cả nước sục sôi lên đường nhập ngũ, trong đó có cả những người đang học tập ở nước ngoài chưa tốt nghiệp, cũng xin trở về nước tham gia diệt giặc.

Năm 1972, nhóm lưu học sinh Việt Nam đầu tiên được cử sang Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva (MGU) theo chuyên ngành báo chí, hệ đại học (gồm có Nguyễn Đăng Phát, Phạm Tiến Dũng, Lê Phúc Nguyên và Nguyễn Đình Lanh). Đây cũng là nhóm 4 sinh viên Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp đại học chính quy chuyên ngành báo chí tại Liên Xô (niên khóa 1972-1977). Sau đó vào năm 1973, nhóm lưu học sinh khác tiếp tục được cử sang học báo chí tại MGU theo diện phái cử của Thông tấn Xã Việt Nam (gồm có Vũ Huyến, Nguyễn Vinh Quang, Vũ Đức Tân, Lê Hải). Các khóa tiếp theo đó, lần lượt có thêm nhiều công dân Việt Nam được cử sang học tập, nghiên cứu báo chí tại MGU (như Trần Đăng Tuấn, Đinh Thế Huynh, Đỗ Quý Doãn, Nguyễn Văn Dững,…). Dần dần hình thành nên nguồn nhân lực báo chí bậc cao, được đào tạo chuyên nghiệp, phục vụ đắc lực cho nhiều cơ quan báo chí hàng đầu Việt Nam sau khi về nước.

Trong thập niên 70 của thế kỷ XX, mỗi năm trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva tiếp nhận và đào tạo từ một vài lưu học sinh Việt Nam về chuyên ngành báo chí. Số lượng này bắt đầu có xu hướng giảm vào thập niên 80, do bối cảnh lịch sử và nhu cầu thực tiễn xã hội. Ngoài MGU, trong thời kỳ này, trường Đại học Tổng hợp Minsk (Belarus) cũng là nơi đào tạo chuyên ngành báo chí cho một số lưu học sinh Việt Nam (ví dụ như Nguyễn Viết Chức, Nguyễn Tuấn Phong,…). Số lượng tuy ít hơn MGU, song nguồn nhân lực này sau khi trở về trong nước cũng có nhiều đóng góp to lớn cho báo chí Việt Nam nói riêng và cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung. MGU và Đại học Tổng hợp Minsk trở thành cái nôi đào tạo nhân lực báo chí bậc cao cho Việt Nam, với số lượng từ những năm 1970 đến lúc Liên Xô tan rã, với số lượng vào khoảng 50 người (bao gồm hệ đại học và sau đại học). Từ đó hình thành nên lực lượng những người làm báo chuyên nghiệp, có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền báo chí cách mạng Việt Nam sau 1975.

Nhìn chung, vai trò quan trọng của đội ngũ lưu học sinh Việt Nam đào tạo báo chí tại Liên Xô đối với báo chí Việt Nam có thể thể hiện ở một số khía cạnh sau. Một là, hình thành nên thế hệ đầu tiên các phóng viên – nhà báo chuyên nghiệp, các nhà lý luận báo chí – truyền thông đại chúng được đào tạo chuyên sâu và đội ngũ các cán bộ quản lý báo chí cao cấp từ Trung ương đến địa phương. Hai là, đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc thường xuyên, liên tục chuyển tải thông tin chính xác và đầy đủ về tình hình Việt Nam ra thế giới, cập nhật tình hình Nga-Xô, tin tức quốc tế về trong nước. Từ đó, một mặt, góp phần vào quá trình Việt Nam tiếp cận thông tin về bối cảnh khu vực và thế giới, từng bước tham gia vào tiến trình hội nhập quốc tế một cách sâu rộng và hiệu quả. Mặt khác, góp phần giúp báo chí Việt Nam dần bắt kịp với xu thế phát triển chung của báo chí – truyền thông trên toàn cầu.  Ba là, đóng vai trò là nhịp cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam và Liên Xô trước đây, Liên bang Nga sau này trong lĩnh vực báo chí – truyền thông; góp phần mạnh mẽ đưa thông tin, hình ảnh của Việt Nam tới gần hơn với bạn bè Nga –Xô và ngược lại; có vai trò quan trọng vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, thúc đẩy ngoại giao nhân dân qua các thời kỳ đến thời điểm hiện tại.

2. Đào tạo nhân lực báo chí – truyền thông giữa Việt NamLB Nga hiện nay

Sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, cùng với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng của nước Nga những năm 1990, tiếng Nga không còn giữ tầm ảnh hưởng như trước đó và không còn là ngoại ngữ ưu tiên của giới trẻ Việt Nam (so với tiếng Anh, tiếng Pháp). Đó là lí do mà số lượng du học sinh Việt Nam sang Nga dần thu hẹp trong thập niên 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, sau chuyến thăm chính thức đầu tiên của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin đến Hà Nội vào tháng 2/2001, hai nước đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược và bắt đầu thúc đẩy hợp tác mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục đào tạo [3]. Sinh viên Việt Nam nhận được thêm nhiều suất học bổng sang học tập tại các trường đại học trên toàn Liên bang Nga. Theo Hiệp định Hợp tác Giáo dục giữa hai nước giai đoạn 2005-2008, Nga cung cấp cho Việt Nam 210 suất học bổng, trao đổi 30 sinh viên, nghiên cứu sinh và thực tập sinh. Trong giai đoạn này, hàng năm có từ 3-4 sinh viên Việt Nam được cử theo học ngành báo chí – truyền thông tại Liên bang Nga.

Trong giai đoạn 2008-2020, số xuất học bổng của chính phủ Nga dành cho sinh viên Việt Nam ngày càng tăng, từ 345 xuất (năm 2011), lên 795 xuất (năm 2015). Và đến năm 2020, Liên bang Nga cấp cho Việt Nam 1000 suất học bổng diện Hiệp định. Theo báo cáo từ Cục Đào tạo Quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo), từ giai đoạn 2008-2020, có 181 sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam nhận học bổng sang Nga theo học ngành Báo chí – Truyền thông [4]. Trong đó có 143 người được cử đi học hệ đại học (79%), 25 người học thạc sỹ (13%) và 13 người làm nghiên cứu sinh tiến sỹ (7%). Ngoài ra còn có lực lượng đáng kể học sinh, sinh viên theo học ngành báo chí – truyền thông theo diện tự túc ở nhiều trường đại học trên toàn Liên bang Nga.

Hiện nay, một số địa chỉ học ngành Báo chí – Truyền thông ở Nga được nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam lựa chọn như: Đại học Hữu nghị các dân tộc (Matxcơva), Đại học Quốc gia Voronezh, Đại học Điện ảnh và Truyền hình Saint Peterburg, Đại học Quốc gia Tomsk, Đại học Kinh tế Nga mang tên G.V. Plekhanov,…. Theo đó, ba chuyên ngành được nhiều sinh viên lựa chọn nhất là Báo chí, Quảng cáo và Quan hệ công chúng (PR).

TTTên trườngSố sinh viên, nghiên cứu sinhNgành học
1Đại học Hữu nghị các Dân tộc Nga29Báo chí, PR
2Đại học Quốc gia Voronezh18Báo chí, Truyền hình
3Đại học Điện ảnh và Truyền hình Saint Peterburg14Báo chí, Quảng cáo
4Đại học Quốc gia Tomsk8Báo chí, Quảng cáo
Bảng 1: Các trường ĐH Nga có nhiều sinh viên Việt Nam theo học ngành Báo chí – Truyền thông giai đoạn 2008-2020

Tính từ 2001 đến nay, Liên bang Nga đã đào tạo cho Việt Nam nguồn nhân lực đáng kể về lĩnh vực báo chí – truyền thông (trên 200 lưu học sinh). Đây là lực lượng được đào tạo bài bản, chuyên sâu về báo chí – truyền thông hiện đại của nước Nga hậu Xô Viết. Họ có góc nhìn và sự tiếp cận mới về các vấn đề chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng của Liên bang Nga và thế giới. Sau khi về nước công tác, nguồn nhân lực này đóng góp một phần không nhỏ trong việc chuyển tải thông tin về nước Nga tới độc giả trong nước một cách mới mẻ, hiện đại. Đồng thời, góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga trên nhiều lĩnh vực thông qua các kênh truyền thông đại chúng.

Hiện nay, các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp ngành báo chí – truyền thông ở Nga làm việc ở nhiều cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến địa phương. Trong đó có các nhân sự lao động tại các cơ quan lớn như Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Nhân dân và các báo điện tử hàng đầu trong nước (Zing News, VTC News, Thời Đại, …). Bên cạnh đó, nhiều lưu học sinh cũng đang làm việc trong các lĩnh vực truyền thông đại chúng, quảng cáo, PR,…Đây là những ngành nghề hiện đại, có sức hút với giới trẻ hiện nay. Ngoài ra, một số nhân lực hiện làm công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo báo chí uy tín trong nước như Đại học KHXH&NV, Đại học Thăng Long, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội.

Nhìn chung, nguồn nhân lực báo chí – truyền thông học tập tại Nga trên đang từng bước tự khẳng định bản thân và dâng định hình vị trí trong xã hội. Với kiến thức chuyên môn vững vàng, có nền tảng thế giới quan mở rộng về Liên bang Nga và thế giới, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, lực lượng này có thể đóng vai trò kế cận cho thế hệ nhân lực báo chí bậc cao đào tạo trong thời kỳ Liên Xô; sẽ tham gia sâu rộng vào quá trình phát triển không ngừng của nền báo chí cách mạng Việt Nam trong tương lai gần; đồng thời là nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị Việt – Nga lên tầm cao mới trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là truyền thông – thông tin.

3. Vài kiến nghị về nguồn nhân lực báo chí đào tạo tại Nga

Hiện nay, hợp tác đào tạo báo chí – truyền thông giữa Việt Nam và Liên bang Nga phát triển mở rộng, đa dạng hóa chuyên ngành đào tạo hơn so với đào tạo trong thời kỳ Xô Viết. Ngoài các ngành truyền thống như báo viết, phát thanh-truyền hình, sinh viên Việt Nam có thể chọn ngành đào tạo mới, với nhiều triển vọng như truyền thông đa phương tiện, quan hệ công chúng và quảng cáo. Tuy nhiên, theo nhận định của tác giả, mặc dù số lượng sinh viên Việt Nam đào tạo tại Nga về lĩnh vực báo chí – truyền thông lớn gấp nhiều lần so với giai đoạn trước đây, song sinh viên tốt nghiệp có chất lượng chưa cao (yếu hơn so với sinh viên đào tạo thời Liên Xô). Do đó, nguồn nhân lực này chưa thể tạo dấu ấn và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống báo chí nước nhà, điều mà thế hệ đào tạo trước 1990 đã xây dựng và khẳng định tầm ảnh hưởng cho đến ngày nay.  

Sự phát triển đa dạng và mở rộng của báo chí cách mạng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập đã xuất hiện thêm nguồn nhân lực báo chí – truyền thông đào tạo ở nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, như Hoa Kỳ, Pháp, Australia, Singapore,…Điều này phá vỡ thế độc tôn về đào tạo báo chí – truyền thông ở Nga-Xô đối với lưu học sinh Việt Nam. Những điểm mạnh về công nghệ trong kỷ nguyên Internet và kỹ thuật số ở các nước phương Tây được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực đào tạo tại các nước này phát huy thế mạnh và nhanh chóng xác lập vị trí trong hệ thống báo chí Việt Nam hiện nay. Trong khi đó, điểm mạnh của đào tạo báo chí Nga-Xô phần lớn tập trung vào hệ thống lý thuyết hàn lâm và phương pháp luận cơ bản. Do đó, sinh viên đào tạo báo chí tại Nga-Xô thường có nhiều nền tảng vững chắc về kiến thức lý luận hàn lâm, nhưng thiếu kỹ năng nghiệp vụ báo chí – truyền thông tân tiến và ít cập nhật nhiều xu hướng công nghệ hiện đại của thế giới. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đối với quá trình thích ứng và hoàn thành công việc sau khi về nước công tác. Đồng thời đặt ra vấn đề cấp thiết đối với các nhà quản lý giáo dục về việc xây dựng định hướng và lựa chọn đúng đối tượng lưu học sinh sang Nga học tập về lĩnh vực báo chí-truyền thông.

Bên cạnh đó, một trong những vấn đề đáng quan tâm hiện nay là sinh viên Việt Nam theo học ngành báo chí – truyền thông tại Nga về nước khó xin được việc làm, hoặc khó làm đúng ngành nghề đào tạo. Có nhiều lí do khác nhau xuất phát từ các yếu tố khách quan và chủ quan. Trong đó có việc đào tạo báo chí – truyền thông trong nước gia tăng thời gian gần đây; số lượng cơ quan thông tin đại chúng giảm do Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025; tiếng Nga không thông dụng như các ngoại ngữ khác. Bên cạnh đó,hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo hay các đơn vị cử sinh viên đi học báo chí – truyền thông tại Nga, song chưa có kế hoạch sử dụng cụ thể hay liên kết, phối hợp với các đơn vị tuyển dụng trong nước nhằm tối ưu hóa nguồn lực theo mục đích cử đi học ban đầu. Ngoài ra, sinh viên báo chí ở Nga khó khăn tiếp cận với các cơ quan sử dụng báo chí trong nước về mảng Nga – Xô, do chưa có một kênh thông tin hay hội nhóm kết nối về lĩnh vực này.

Hiện nay công tác ngoại giao nhân dân, thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị hai nước Việt – Nga trên lĩnh vực thông tin – truyền thông do nguồn nhân lực đào tạo từ Liên Xô đảm nhiệm. Vấn đề tuổi tác của thế hệ dẫn dắt hiện nay đòi hỏi việc xây dựng lực lượng kế cận, đồng thời dẫn dắt họ từng bước tham gia sâu rộng hơn vào các hoạt động quan trọng này, nhằm đảm bảo tính ổn định và xuyên suốt. Tất nhiên, ở đây cần xem xét việc thay đổi về nhận thức chung giữa các thế hệ có thể khiến những giá trị truyền thông  được hình thành và xây dựng trước đây bị ảnh hưởng, từ đó cần có các giải pháp để duy trì tính kế thừa và phát triển.

Do đó, xuất phát từ các yêu cầu và nhiệm vụ được nêu trong Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, một số kiến nghị có thể được nêu ra, nhằm thực hiện tốt hơn hợp tác đào tạo báo chí Việt Nam tại Liên bang Nga và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực bậc cao này trong thời gian tới.

Về tăng cường hợp tác đào tạo báo chí – truyền thông tại Nga, đầu tiên, cần xem xét việc tăng số lượng học bổng cho sinh viên Việt Nam theo chuyên ngành quan trọng này, nhằm “phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền và thông tin đối ngoại”. Thứ hai, coi trọng việc chọn lọc chất lượng đầu vào lưu học sinh nói chung và lĩnh vực báo chí nói chung, trong đó đặc biệt ưu tiên các xuất học bổng dành cho sinh viên chuyên ngành Báo chí tại các cơ sở giáo dục trong nước như Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học KHXH& Nhân văn, Đại học Đà Nẵng,…Thứ ba, trong quá trình liên hệ các trường cử sinh viên sang học tập báo chí-truyền thông, cần ưu tiên lựa chọn đào tạo tại các địa chỉ đào tạo uy tín hàng đầu của Liên bang Nga, như Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva, Đại học Tổng hợp quốc gia St.Petersburg, Đại học Hữu nghị các Dân tộc Nga,…

Về sử dụng nguồn nhân lực báo chí đào tạo tại Nga, để có giải pháp sử dụng hiệu quả và phát huy vai trò của lực lượng này, một là, các đơn vị hữu quan như Cục Hợp tác Quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo), các đơn vị phái cử sinh viên du học, cùng với các đơn vị có nhu cầu tuyển dụng nguồn nhân lực cần có sự phối hợp và trao đổi thông tin một cách hiệu quả trong quá trình hợp tác và quản trị nhân lực sau đào tạo.Hai là, đối với nhân lực chuyên mảng báo chí,cần tạo cơ chế thu hút sinh viên báo chí ngay từ trường đại học ở Nga, về làm việc tại các cơ quan báo chí trong nước, nhất là các cơ quan có sử dụng tiếng Nga như Báo Nhân dân, Báo Quân Đội Nhân Dân, Tạp chí Thời Đại, Kênh VTV4, VOV5,… Tất nhiên, ở đây cần có các yêu cầu chặt chẽ về kiến thức, trình độ, kĩ năng làm việc và cơ chế ràng buộc, cũng như các điều kiện đãi ngộ khác nhau. Ba là, đối với nhân lực chuyên ngành truyền thông, PR, quảng cáo, hiện nay nhu cầu nhân sự đang gia tăng ở các tỉnh như Khánh Hòa, Bình Thuận, Vũng Tàu, …nơi có nhiều khách du lịch và cộng đồng doanh nghiệp Nga. Đặc biệt các công ty hay xí nghiệp liên doanh Việt – Nga thường có nhu cầu tuyển dụng nhân lực làm việc trong lĩnh vực truyền thông, PR. Do đó,các đơn vị tuyển dụng có thể phối hợp với các đơn vị hữu quan như chi hội hữu nghị Việt – Nga tại các địa phương tổ chức các diễn đàn, hội thảo về nhân lực, giúp kết nối nhà tuyển dụng và lực lượng lao động có trình độ bậc cao này, góp phần giải quyết các yêu cầu cấp thiết về nhân lực tại các địa phương hiện nay.

©Nguyễn Minh Tuấn

Trích dẫn theo nguồn: Nguyễn Minh Tuấn (2020), Một số vấn đề đào tạo nhân lực báo chí Việt Nam – LB Nga, Hội thảo quốc tế: 70 năm hợp tác Việt – Nga về giáo dục và khoa học.Nxb ĐHQGHN, tr.140-147.


* Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội

[1] Bộ Ngoại giao Việt Nam (1983). Việt Nam – Liên Xô: 30 năm quan hệ (1950 – 1980), NXB. Ngoại giao, Hà Nội, tr. 111.

[2] Phạm Quang Minh (2009). Quan hệ Việt Nam – Liên Xô trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Tạp chí Lịch sử quân sự, số 205(1/2009), tr.16.

[3] Bộ Ngoại giao Việt Nam. Việt Nam-Nga ký Hiệp định hợp tác giáo dục, <http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/nr040807104143/nr040807105001/ns050627102638>, xem 01/10/2020.

[4] Báo cáo của Cục Hợp tác Quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2020.

"Làm cái nghề này phải: Mắt sáng, lòng trong, bút sắc...thì mới nên nghề"
- Nhà báo Hữu Thọ

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*